
Hôm nay, chúng ta hãy tạm cất đi những giáo trình phức tạp để đến với một chủ đề nhẹ nhàng hơn. Hãy cùng thầy xuyên không về vùng đất Ethiopia xa xôi, khám phá truyền thuyết vô cùng thú vị về chàng chăn dê Kaldi. Chỉ từ một loại quả dại tình cờ khiến bầy dê phấn khích, lịch sử đã khai sinh ra thức uống được khao khát nhất hành tinh của chúng ta ngày nay!
engonow.com
Bài đọc:
English:
Coffee was first discovered in Eastern Africa in an area we know today as Ethiopia. A popular legend refers to a goat herder by the name of Kaldi, who observed his goats acting unusually friskily after eating berries from a bush. Curious about this phenomenon, Kaldi tried eating the berries himself. He found that these berries gave him renewed energy.
The news of this energy laden fruit quickly moved throughout the region. Coffee berries were transported from Ethiopia to the Arabian Peninsula, and were first cultivated in what today is the country of Yemen. Coffee remained a secret in Arabia before spreading to Turkey and then to the European continent by means of Venetian trade merchants.
Coffee was first eaten as a food though later people in Arabia would make a drink out of boiling the beans for its narcotic effects and medicinal value. Coffee for a time was known as Arabian wine to Muslims who were banned from alcohol by Islam. It was not until after coffee had been eaten as a food product, a wine and a medicine that it was discovered, probably by complete accident in Turkey, that by roasting the beans a delicious drink could be made. The roasted beans were first crushed, and then boiled in water, creating a crude version of the beverage we enjoy today. The first coffee houses were opened in Europe in the 17th Century and in 1675, the Viennese established the habit of refining the brew by filtering out the grounds, sweetening it, and adding a dash of milk.
If you were to explore the planet for coffee, you would find about 60 species of coffee plants growing wild in Africa, Malaysia, and other regions. But only about ten of them are actually cultivated. Of these ten, two species are responsible for almost all the coffee produced in the world: Coffea Arabica and Coffea Canephora (usually known as Robusta). Because of ecological differences existing among the various coffee producing countries, both types have undergone many mutations and now exist in many sub species.
Although wild plants can reach 10 – 12 metres in height, the plantation one reaches a height of around four metres. This makes the harvest and flowering easier, and cultivation more economical. The flowers are white and sweet- scented like the Spanish jasmine. Flowers give way to a red, darkish berry. At first sight, the fruit is like a big cherry both in size and in colour. The berry is coated with a thin, red film (epicarp) containing a white, sugary mucilaginous flesh (mesocarp). Inside the pulp there are the seeds in the form of two beans coupled at their flat surface. Beans are in turn coated with a kind of resistant, golden yellow parchment, (called endocarp). When peeled, the real bean appears with another very thin silvery film. The bean is bluish green verging on bronze, and is at the most 11 millimetres long and 8 millimetres wide.
Coffee plants need special conditions to give a satisfactory crop. The climate needs to be hot-wet or hot temperate, between the Tropic of Cancer and the Tropic of Capricorn, with frequent rains and temperatures varying from 15 to 25 Degrees C. The soil should be deep, hard, permeable, well irrigated, with well- drained subsoil. The best lands are the hilly ones or from just-tilled woods. The perfect altitude is between 600 and 1200 metres, though some varieties thrive at 2000-2200 metres. Cultivation aimed at protecting the plants at every stage of growth is needed. Sowing should be in sheltered nurseries from which, after about six months, the seedlings should be moved to plantations in the rainy season where they are usually alternated with other plants to shield them from wind and excessive sunlight. Only when the plant is five years old can it be counted upon to give a regular yield. This is between 400 grams and two kilos of arabica beans for each plant, and 600 grams and two kilos for robusta beans.
Harvesting time depends on the geographic situation and it can vary greatly therefore according to the various producing countries. First the ripe beans are picked from the branches. Pickers can selectively pick approximately 250 to 300 pounds of coffee cherry a day. At the end of the day, the pickers bring their heavy burlap bags to pulping mills where the cherry coffee can be pulped (or wet milled). The pulped beans then rest, covered in pure rainwater to ferment overnight. The next day the wet beans are hand-distributed upon the drying floor to be sun dried. This drying process takes from one to two weeks depending on the amount of sunny days available. To make sure they dry evenly, the beans need to be raked many times during this drying time. Two weeks later the sun dried beans, now called parchment, are scooped up, bagged and taken to be milled. Huge milling machines then remove the parchment and silver skin, which renders a green bean suitable for roasting. The green beans are roasted according to the customers’ specifications and, after cooling, the beans are then packaged and mailed to customers.
Vietnamese:
Cà phê được phát hiện lần đầu tiên ở khu vực Đông Phi, tại một vùng đất mà ngày nay chúng ta biết đến là Ethiopia. Một truyền thuyết phổ biến kể về một người chăn dê tên là Kaldi, người đã quan sát thấy đàn dê của mình có những hành động nhún nhảy bất thường sau khi ăn quả từ một bụi cây. Tò mò về hiện tượng này, Kaldi đã tự mình ăn thử những quả đó. Ông phát hiện ra rằng loại quả này mang lại cho ông một nguồn năng lượng tươi mới.
Tin tức về loại quả chứa đầy năng lượng này nhanh chóng lan truyền khắp khu vực. Quả cà phê được vận chuyển từ Ethiopia đến Bán đảo Ả Rập và lần đầu tiên được canh tác tại nơi mà ngày nay là quốc gia Yemen. Cà phê vẫn là một bí mật ở Ả Rập trước khi lan sang Thổ Nhĩ Kỳ và sau đó đến lục địa châu Âu thông qua các thương gia người Venice.
Cà phê ban đầu được ăn như một loại thực phẩm, mặc dù sau này người dân ở Ả Rập đã tạo ra một loại thức uống bằng cách đun sôi hạt cà phê vì tác dụng gây hưng phấn và giá trị y học của nó. Có một thời gian, cà phê được những người Hồi giáo – những người bị cấm uống rượu theo luật Hồi giáo – gọi là rượu Ả Rập. Phải đến sau khi cà phê được sử dụng như một loại thực phẩm, một loại rượu và một loại thuốc thì người ta mới phát hiện ra (có lẽ hoàn toàn tình cờ ở Thổ Nhĩ Kỳ) rằng việc rang hạt cà phê có thể tạo ra một thức uống vô cùng thơm ngon. Những hạt cà phê rang ban đầu được nghiền nát, sau đó đun sôi trong nước, tạo ra một phiên bản thô sơ của loại đồ uống mà chúng ta thưởng thức ngày nay. Những quán cà phê đầu tiên được mở ở châu Âu vào thế kỷ 17, và vào năm 1675, người Vienna đã hình thành thói quen tinh chế đồ uống này bằng cách lọc bỏ bã, làm ngọt và thêm một chút sữa.
Nếu bạn đi khám phá hành tinh này để tìm kiếm cà phê, bạn sẽ tìm thấy khoảng 60 loài cây cà phê mọc hoang dã ở châu Phi, Malaysia và các khu vực khác. Nhưng chỉ có khoảng 10 loài trong số đó thực sự được canh tác. Trong 10 loài này, có 2 loài chiếm gần như toàn bộ lượng cà phê được sản xuất trên thế giới: Coffea Arabica (cà phê chè) và Coffea Canephora (thường được biết đến là Robusta – cà phê vối). Do những khác biệt về sinh thái giữa các quốc gia sản xuất cà phê khác nhau, cả hai loại này đều đã trải qua nhiều lần đột biến và hiện tồn tại dưới nhiều phân loài.
Mặc dù các loài cây mọc hoang có thể đạt chiều cao từ 10 – 12 mét, nhưng cây trồng tại đồn điền chỉ cao khoảng 4 mét. Điều này giúp cho việc thu hoạch, ra hoa diễn ra dễ dàng hơn và việc canh tác cũng tiết kiệm hơn. Hoa cà phê có màu trắng và có mùi thơm ngọt ngào giống như hoa nhài Tây Ban Nha. Hoa rụng đi nhường chỗ cho quả mọng có màu đỏ sẫm. Thoạt nhìn, quả cà phê giống như một quả anh đào lớn cả về kích thước lẫn màu sắc. Quả được bao bọc bởi một lớp vỏ mỏng, màu đỏ (lớp vỏ ngoài) chứa một lớp thịt nhầy có màu trắng và vị ngọt (lớp vỏ giữa). Bên trong lớp cùi này là hạt cà phê, gồm hai nửa hạt úp phần mặt phẳng vào nhau. Các hạt này lại được bọc bởi một lớp vỏ dai màu vàng óng (gọi là lớp vỏ trong hay vỏ trấu). Khi bóc lớp vỏ này ra, hạt cà phê thực sự sẽ lộ diện cùng với một lớp màng lụa bạc rất mỏng khác. Hạt cà phê có màu xanh lam nhạt ngả sang màu đồng, dài tối đa 11 mm và rộng 8 mm.
Cây cà phê cần những điều kiện đặc biệt để mang lại một vụ mùa đạt yêu cầu. Khí hậu cần phải nóng ẩm hoặc ôn đới nóng, nằm giữa Chí tuyến Bắc và Chí tuyến Nam, với lượng mưa thường xuyên và nhiệt độ dao động từ 15 đến 25 độ C. Đất trồng phải sâu, rắn chắc, dễ thấm nước, được tưới tiêu tốt, với lớp đất nền dễ thoát nước. Vùng đất tốt nhất là những vùng đất đồi núi hoặc từ những khu rừng mới được khai hoang. Độ cao hoàn hảo là từ 600 đến 1200 mét, mặc dù một số giống cây có thể phát triển mạnh ở độ cao 2000-2200 mét. Việc canh tác nhằm bảo vệ cây trồng ở mọi giai đoạn phát triển là điều vô cùng cần thiết. Gieo hạt nên được thực hiện trong các vườn ươm có mái che; sau khoảng sáu tháng, cây giống sẽ được chuyển đến đồn điền vào mùa mưa, nơi chúng thường được trồng xen kẽ với các loại cây khác để che chắn khỏi gió và ánh nắng mặt trời quá gắt. Chỉ khi cây được năm tuổi thì mới có thể cho năng suất đều đặn. Mức này dao động từ 400 gram đến 2 kg hạt Arabica cho mỗi cây, và từ 600 gram đến 2 kg đối với hạt Robusta.
Thời gian thu hoạch phụ thuộc vào vị trí địa lý và do đó có thể khác biệt rất lớn giữa các quốc gia sản xuất khác nhau. Đầu tiên, những quả chín được hái từ trên cành. Người hái có thể chọn lọc thủ công khoảng 250 đến 300 pound (tương đương 113 – 136 kg) quả cà phê tươi mỗi ngày. Vào cuối ngày, người hái mang những bao vải bố nặng trĩu của mình đến các xưởng xát vỏ, nơi quả cà phê tươi được tách vỏ (hoặc xát ướt). Những hạt đã được tách vỏ sau đó được ngâm nghỉ, phủ ngập trong nước mưa tinh khiết để lên men qua đêm. Ngày hôm sau, những hạt ướt này được rải đều bằng tay trên sân phơi để phơi nắng. Quá trình phơi khô này mất từ một đến hai tuần tùy thuộc vào số ngày nắng có sẵn. Để đảm bảo hạt khô đồng đều, cần phải cào đảo hạt nhiều lần trong suốt quá trình phơi. Hai tuần sau, những hạt cà phê phơi nắng (lúc này được gọi là cà phê thóc) được xúc lên, đóng bao và mang đi xát trắng. Những cỗ máy xát khổng lồ sau đó sẽ loại bỏ lớp vỏ trấu và màng lụa bạc, tạo ra hạt cà phê xanh (cà phê nhân) phù hợp cho việc rang. Những hạt cà phê xanh này được rang theo yêu cầu cụ thể của khách hàng, và sau khi làm nguội, chúng sẽ được đóng gói và gửi đến tay khách hàng.
Từ vựng nổi bật:
- Phenomenon /fəˈnɒm.ɪ.nən/ (n.): Hiện tượng
- Cultivate /ˈkʌl.tɪ.veɪt/ (v.): Trồng trọt, canh tác
- Merchant /ˈmɜː.tʃənt/ (n.): Thương gia, nhà buôn
- Medicinal /məˈdɪs.ɪ.nəl/ (adj.): Có đặc tính chữa bệnh, thuộc y học
- Crude /kruːd/ (adj.): Thô sơ, chưa tinh chế
- Refine /rɪˈfaɪn/ (v.): Tinh chế, lọc
- Species /ˈspiː.ʃiːz/ (n.): Giống, loài (sinh học)
- Ecological /ˌiː.kəˈlɒdʒ.ɪ.kəl/ (adj.): Thuộc về sinh thái học
- Mutation /mjuːˈteɪ.ʃən/ (n.): Sự đột biến
- Economical /ˌiː.kəˈnɒm.ɪ.kəl/ (adj.): Tiết kiệm, có lợi về kinh tế
- Coat /kəʊt/ (v.): Bao phủ, tráng, bọc
- Satisfactory /ˌsæt.ɪsˈfæk.tər.i/ (adj.): Đạt yêu cầu, thỏa đáng
- Permeable /ˈpɜː.mi.ə.bəl/ (adj.): Có thể thấm nước, dễ thấm
- Irrigate /ˈɪr.ɪ.ɡeɪt/ (v.): Tưới tiêu (nông nghiệp)
- Thrive /θraɪv/ (v.): Phát triển mạnh, sinh trưởng tốt
- Yield /jiːld/ (n.): Sản lượng, hoa lợi
- Ripe /raɪp/ (adj.): Chín (dùng cho trái cây, hạt)
- Ferment /fəˈment/ (v.): Lên men
- Evenly /ˈiː.vən.li/ (adv.): Đồng đều, bằng phẳng
- Render /ˈren.dər/ (v.): Làm cho, tạo ra (một trạng thái)
Nếu bạn đang tìm kiếm một địa chỉ học IELTS Bình Tân hoặc khu vực Quận 6 uy tín và chất lượng, đừng ngần ngại liên hệ ngay qua fanpage để trung tâm tư vấn lộ trình phù hợp nhất cho bạn nhé!






